Trung Quốc cổ đại, tứ thư, ngũ kinh, lão trang, chư tử

Khổng Tử   Hình internet
Trung Quốc cổ đại 古漢文
Giai đoạn Xuân Thu và Chiến Quốc (thuộc thời đại Đông Chu) là thời kỳ hoàng kim về sự phát triển tư tưởng triết học của Trung Hoa. Số triết gia và các nhà tư tưởng giai đoạn này thật là đông đảo, người Trung Hoa dùng cụm từ Chư Tử Bách Gia 諸子百家 để gọi chung các bậc hiền triết này. Lúc bấy giờ, các Tử đã cho ra đời hàng loạt danh tác về triết lý, luận thuyết nên gọi là Bách Gia Tranh Minh 百家爭鳴 tức là Trăm nhà đua tranh hay Trăm nhà đua tiếng.
 

                                        Hình internet

    Trong số đó, Nho Giáo do đức Khổng Tử sáng lập và Đạo Giáo (hay còn gọi là Lão Giáo) do Lão Tử khởi lập có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống người Trung Hoa nói riêng và người Phương Đông nói chung. Trang này gộp các trang con thành trang Nho Đạo và chủ yếu bình dịch các danh tác quan trọng nhất của hai Nhà này. Danh tác Nho Giáo có Tứ Thư và Ngũ Kinh; danh tác của Đạo Giáo, gọi chung là sách Lão Trang, có Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh và Xung Hư Kinh
    Để tiện cho việc tìm hiểu, trong phần Chư Tử của Trang này là các bài tổng hợp và lược soạn về tiểu sử của các Tử và tóm lược một số trước tác quan trọng khác của mỗi Nhà. 

      Tứ Thư

Theo các sách sử của Việt Nam, khi Sĩ Nhiếp 士燮 (137-226) làm quan Thái Thú đất Giao Chỉ thời nước ta thuộc Đông Hán (23-220) ông đã truyền bá chữ Hán vào nước ta, và được xem là ông tổ chữ Nho ở đất Việt. 
Trải qua hơn 550 năm thì học thuật của người Việt mới thực sự đạt đến đỉnh cao. Đó là thành quả của một người Việt tên Khương Công Phụ
姜公輔 đỗ đầu kỳ thi năm 780 ở Trung Hoa thuộc nhà Đường, về sau ông thăng tiến tới chức Tể Tướng. 

Năm 938 Ngô Quyền dùng chữ Hán soạn bài Hịch kêu gọi tướng sĩ đánh bại quân Nam Hán (thời Lục Triều) do Hoằng Thao cầm đầu ở cửa sông Bạch Đằng. Nước Vạn Xuân 萬春 do Lý Nam Đế 李南帝 (503–548) thành lập năm 544 (sau khi đánh bại quân nhà Lương - thời Nam Bắc Triều) trước kia lại được độc lâp. Kể từ đó Chữ Hán được xem là chữ viết chính thức của nước ta. 
Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên nhà Lý thì nền văn học chữ Hán mới thực sự phát triển. Trong các tài liệu Văn học sử, vào thời kỳ này chữ Hán ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ, buổi đầu phổ biến ở chốn Thiền Môn. Bởi lẽ thời ấy chưa có nhà trường như bây giờ nên việc học chữ chủ yếu diễn ra ở các Chùa, do các nhà sư đảm trách. Thơ văn của các vị Thiền Sư giai đoạn ấy vẫn còn lưu lại khá nhiều trong bộ sách Thiền Uyển Tập Anh. 

Đức Khổng Tử có nói: 
溫 故 而 知 新 可 以 爲 師 矣 
Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ 
Xét cũ để biết mới thì có thể làm thầy (Luận Ngữ, thiên Vi Chính) 
Tuy chữ Hán không còn dùng chính thức như thời xưa nhưng nếu không biết được cái cũ thì làm sao biết được đâu là cái mới. Theo lời dạy, nếu Quí Vị thông kim bác cổ thì có thể làm thầy được rồi vậy! 

知不知,尚矣;
不知知,病也。[老子] 
Tri bất tri, thượng hĩ; 
Bất tri tri, bệnh dã. (Lão Tử) 

Sưu tầm: Lo Binh Son

 

TOP